TUẦN BÁO TIN HỌC 12

NGÀY 4.4.2010

 

 

BaseKit: Tạo một Website từ Photoshop

 

28/03/2010 01:38:00

Font size: Decrease 
fontEnlarge 
font

BaseKit: Tạo một Website từ Photoshop

Quản trị mạng - Hăy tưởng tượng kịch bản: bạn là một nhà thiết kế Web, đồng thời cũng là một chuyên gia về Photoshop và muốn chuyển đổi một thiết kế tuyệt vời của ḿnh từ Photoshop vào một trang web cụ thể. Làm thế nào bạn có thể thực hiện điều này một cách dễ dàng nhất?
Bạn có hai giải pháp: Thứ nhất bạn phải học HTML (hầu như chắc chắn bạn cũng cần phải biết PHP) và tự viết code , hoặc phải trả tiền cho nhà viết code để họ làm điều đó cho bạn. Với Basekit, bạn sẽ có một giải pháp thứ ba – chỉ cần nhập file .psd và chương tŕnh sẽ tự động chuyển đổi thiết kế của bạn thành một mẫu (template) chuẩn.
BaseKit được phát triển bởi một công ty có trụ sở tại Vương quốc Anh, nó cho phép bạn tạo trang web nhanh chóng và dễ dàng. Hăy suy nghĩ về nó như một công cụ Dreamweaver trực tuyến, nhưng dễ sử dụng hơn và và mạnh hơn. Với BaseKit bạn chỉ cần có rất ít hoặc thậm chí không cần có kiến thức về HTML để viết code cho trang web. Tất cả cái bạn cần chỉ ở đây là một chút sáng tạo.
Bắt đầu
Basekit hiện đang trong quá tŕnh thử nghiệm beta và nó chỉ dành cho các thành viên được mời. Để bắt đầu, bạn phải đăng kư như là một người dùng thử bản beta và chờ đợi cho đến khi có email trả lời chấp nhận cho phép bạn trở thành người dùng thử.
Khi đă nhận được email đồng ư cho phép trở thành thành viên mời dùng thử phiên, bạn có thể tiến hành đăng kư tài khoản của ḿnh. Đây là nơi bạn sẽ chọn một tên miền phụ cho tài khoản. Tên miền phụ này sẽ là một site, nơi có tất cả các trang web của bạn.

Tạo thiết kế đầu tiên

Khi lần đầu tiên đăng nhập, sẽ có thông báo nhắc rằng bạn có muốn nhập file .psd hoặc tạo một trang web dựa trên mẫu sẵn có của Basekit.

 

 

Việc import các file psd là cách làm nhanh nhất để có được trang web đang chạy. Đối với những người sử dụng không thường xuyên hoặc không dùng Photoshop, bạn có thể chọn các mẫu có sẵn từ thư viện site. Sẽ không có cách nào để bạn tạo mẫu riêng cho chính ḿnh, v́ vậy bạn phải làm với những mẫu hạn chế trong thư viện. Hy vọng rằng trong tương lai, họ sẽ thêm vào nhiều mẫu hơn và cũng có thể cung cấp cho bạn những công cụ để tạo ra mẫu riêng (không phải từ các file psd).
Tiếp theo, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn đến với cửa sổ làm việc nơi có vùng soạn thảo và các thanh công cụ .

 

 

Cột phía bên tay trái được chia thành ô (cell) nhỏ bên trên và bên dưới. Cell phía trên, page management area, là vùng quản lư trang nơi bạn thêm các trang mới, thay đổi mẫu, thay đổi các thiết lập cho mỗi trang vv. Cell bên dưới chứa tất cả các widget được sử dụng cho trang web của bạn. Đây là nơi BaseKit thực tỏ ra ưu việt. Có một widget cho hầu hết các thành phần web như Navigational menu, RSS feed, Twitter widget, text box, comments area, Flickr, Search bar, Google Maps, videos, forms và nhiều widget khác nữa mà chúng tôi không liệt kê ra ở đây. Tất cả bạn cần làm chỉ là kéo và thả các vật dụng vào vị trí mong muốn. Đă qua rồi cái thời mà bạn phải ngồi đó để viết các code mở rộng.

 

Mặc dù nó không có đầy đủ các chế độ HTML, nhưng bạn có thể chỉnh sửa các thành phần HTML cho nội dung của mỗi widget. Bạn cũng có thể thay đổi dạng hay CSS của widget này với điều kiện có đủ sự thành thạo để chỉnh sửa nó.

 

 

Tại bất kỳ thời điểm nào, bạn đều có thể nhấn vào nút Preview để xem nó sẽ hiển thị thế nào như trên tŕnh duyệt thực tế. Khi đă thực hiện xong thiết kế của ḿnh hăy nhấn vào nút Publish để chuyển nó trên trang web của bạn.


Các Tính năng mạnh mẽ khác


Basekit làm được nhiều hơn là việc chỉ tạo ra một trang cho website . Nó c̣n đi kèm với nhiều tính năng mạnh mẽ khác cần thiết cho một trang web chuyên nghiệp.
Trong vùng Manage, bạn có thể chỉnh sửa tên của site và tiêu đề SEO, phần mô tả và từ khoá cho trang (các thiết lập SEO cũng có thể dùng cho từng trang riêng biệt). Ngoài ra, nó cũng được tích hợp với Google Analytics để bạn có thể nạp code của ḿnh và ngay lập tức dùng nó để theo dơi lưu lượng truy cập .

 

Cơ sở dữa liệu có sẵn là một tính năng hữu ích khác có thể làm bạn ngạc nhiên. Bạn có thể dễ dàng tạo ra một cơ sở dữ liệu, cũng như thêm ḍng và dữ liệu vào nó. Nếu muốn, cũng có thể nhập các bảng tính vào cơ sở dữ liệu. Một điều không hiểu là làm thế nào để tích hợp cơ sở dữ liệu vào phía trước. Tại thời điểm này, bộ soạn thảo web có vẻ không hỗ trợ mă động (dynamic coding).

 

 

Đóng gói
Khi lần đầu đăng kư phiên bản beta, bạn sẽ được cung cấp gói thử nghiệm với 30 ngày để sử dụng phần mềm. Nếu muốn tiếp tục, bạn có thể đăng kư gói Premium với giá 10 bảng (khoảng $15) mỗi tháng. Chúng tôi không chắc chắn liệu BaseKit đă bắt đầu việc chấp nhận thanh toán hay chưa v́ hiện nay nó vẫn chỉ là phiên bản beta.

 

 

Hosting


Một điểm tốt của BaseKit là bạn không phải lo lắng về việc hosting. Tất cả các file đều được lưu giữ và chạy trên máy chủ BaseKit (chạy trên Amazon S3). Do đó bạn không cần phải lo lắng chút nào về việc lưu trữ cũng như bảo tŕ site. Điều này biện minh cho các thuê bao Premium về mức giá mà bạn phải trả cho một kế hoạch hosting web cơ bản, trừ phần mềm xây dựng trang web. Tuy nhiên cũng phải nói trước rằng, người dùng không được phép export trang web (hoặc các file) vào thời điểm này. Không chắc chắn liệu điều này có phải là một biện pháp lâu dài hay không, nhưng nếu nghĩ đến việc chuyển đổi trang web trong tương lai, đây sẽ là một bất lợi.
Ngoài ra, nếu đang sử dụng tên miền riêng, bạn phải chèn một bản ghi CNAME để trỏ đến máy chủ BaseKit.


Kết luận


Nếu đang có kế hoạch bắt đầu một blog, th́ WordPress sẽ là một sự lựa chọn tốt hơn . Nhưng nếu muốn có một trang web tĩnh đơn giản (hoặc một trang web cộng đồng) và bạn không muốn can thiệp sâu về việc viết code th́ BaseKit là một sự lựa chọn tuyệt vời cho bạn.


(Theo Maketecheasier)

 

 

 

 

Những cô gái xinh đẹp sinh ra từ máy tính

20/10/2009 03:26:00

Font size: Decrease 
fontEnlarge 
font

 

Nhờ các ứng dụng 3D và phần mềm Adobe Photoshop, các nghệ sĩ, chuyên gia đồ họa... tài năng đă vẽ lên những h́nh mẫu lư tưởng về phái đẹp trong con mắt của họ.

 

 

 

 

 

Ảnh: ArtGerm/DeviantArt.

Nguồn: ArtGerm/DeviantArt.

Tác giả: Raffaele Marinetti.

Tác giả: Mario Wibisono.

Tác giả: Marta Dahlig.

Tác giả: Benita Winckler.

Tác giả: Soa Lee.

Tác giả: Lyndsey Hayes.

Tác giả: Katarina Sokolova-Latans’ka.

Tác giả: Viki Yeo.

Tác giả: David Munoz Velazquez.

Tác giả: Xiao Bing.

Nguồn: Moonmomma/DeviantArt.

Tác giả: Margherita Premuroso.

Tác giả: Olivier Ponsonnet.

Tác giả: Andrius Balciunas.

Bức h́nh cuối không phải "cô gái xinh đẹp" nhưng thể hiện tài năng của tác giả Sven Geruschkat. Lấy cảm hứng từ h́nh ảnh hoàng hậu độc ác trong Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn, Geruschkat hoàn thành tác phẩm nhờ các chương tŕnh 3dsmax, Mudbox, Mental Ray và Photoshop. Chi tiết về mũ áo, chú nhện và làn da nhận được nhiều lời thán phục trên diễn đàn đồ họa CGTalk.

Theo VnExpress (Forcg, SmashingApps)

 

Thiên nhiên ngẫu hứng qua ống kính nhiếp ảnh

 

20/10/2009 03:22:00

Font size: Decrease 
fontEnlarge 
font

Dù nhiếp ảnh gia vô t́nh bắt gặp hay đă mất nhiều thời gian và công sức để chụp được, những bức ảnh này vẫn đem đến sự ngạc nhiên và cảm giác thư giăn cho người xem.

Chào thế giới! Ảnh: Roeselien Raimond.

Cứu!!! Ảnh: Ilia Shalamaev.

Ngày của cá heo. Ảnh: Michael AW.

Nhện xanh. Ảnh: Ib M.

Thuyền trưởng. Ảnh: Gwichin.

Ḥa thuận. Ảnh: Shlomi Nissim.

Thân thiết. Ảnh: BogdanBoev.

Vụng về. Ảnh: Jeannette Oerlemans.

Tóm được rồi! Ảnh: TorbenAndersen.

Dàn ca sĩ opera. Ảnh: Cristian Cojocarita.

Bảo vệ hậu phương. Ảnh: Stephen Edds.

Chúc một ngày tốt lành. Ảnh: Vedran Vidak.

Khiêu vũ. Ảnh: Francesco Renzi.

Ngại... Ảnh: William C. Gladish.

Theo VnExpress (SmashingApps)

 

Làm ảnh với PhotoPlus bản quyền miễn phí

 

10/10/2009 01:00:00

Font size: Decrease 
fontEnlarge 
font

PhotoPlus cung cấp những tính năng từ cơ bản đến nâng cao mà một chương trình biên tập ảnh cần có, đặc biệt hữu dụng cho người dùng phổ thông.

 

Photoshop là phần mềm biên tập ảnh hàng đầu hiện nay. Tuy nhiên, hạn chế của nó là giá thành cao, bộ cài đặt lớn và yêu cầu cấu hình khá cao để sử dụng. Trong khi đó, với những tính năng không hề kém cạnh, nhưng lại nhỏ gọn và sử dụng dễ dàng ngay cả trên các máy tính cấu hình yếu, PhotoPlus là sự lựa chọn hoàn hảo dành cho “dân không chuyên”.

Một vài tính năng nổi bật của chương trình:

- Có thể làm việc với các định dạng file của Photoshop hay PaintPro mà không cần phải cài thêm 2 ứng dụng trên.

- Tính năng tạo ảnh động (animation).

- Thay đổi kích cỡ, xoay, crop… hình gốc để có hình ảnh nhỏ gọn hơn.

- Tạo hiệu ứng tranh vẽ từ hình chụp, cân bằng độ sáng, tăng độ nét, xóa mắt đỏ và các chi tiết thừa trên ảnh…

- Hỗ trợ tính năng chỉnh sửa ảnh theo lớp (layer) để dễ dàng cắt và ghép ảnh.

- Tối ưu file xuất ra, giúp tạo file với chất lượng tốt nhất nhưng dung lượng file không quá lớn.

- Dễ dàng chèn thêm các hiệu ứng, biểu tượng hay đoạn text lên hình ảnh.

- Không chỉ xuất file ra với định dạng ảnh thông thường, chương trình còn cho phép lưu file dưới định dạng PDF, hoặc các định dạng file nguồn để sử dụng trên các chương trình chỉnh sửa ảnh khác như Photoshop hay PaintPro…

Ngoài ra còn rất nhiều tính năng hữu ích khác mà bạn có thể dần khám phá trong quá trình sử dụng.

 

 

Cơ hội tham gia chương trình khuyến mãi:

Phiên bản đầy đủ của PhotoPlus có giá 9,99USD. Tuy nhiên, bạn có thể download và đăng ký để nhận được phiên bản đầy đủ của chương trình hoàn toàn miễn phí bằng cách thực hiện theo các bước dưới đây:

- Đầu tiên, bạn download chương trình tại http://soft4all.info/free-software-download/serif-photoplus-9-the-professional-digital-image-editing-solution/

- Sau khi hoàn thành cài đặt, tại giao diện chính của chương trình, click vào Help và chọn Registration Wizard.

- Ghi nhớ các thông tin tại mục ‘Installation number’ và ‘and code’.

 

 

- Tiếp theo, truy cập trang web đăng ký tại http://www.serif.com/support/registration.asp, nhấn Continue.

- Trên trang web hiện ra tiếp theo, mục ‘Select Your Product’, bạn chọn PhotoPlus 9. Mục ‘Product serial or installation number’ bạn điền dãy số ‘installation number’ đã có ở trên. Điền địa chỉ email, mã vùng và chọn quốc gia. Cuối cùng nhấn vào Continue để tiếp tục.

 

 

 

- Tại trang web hiện ra tiếp theo, bạn điền đầy đủ các thông tin cần thiết (chỉ cần điền những mục có dấu tích màu đỏ), và cuối cùng nhấn vào Continue.

 

 

- Một email từ Serif.com sẽ được gửi vào hộp thư của bạn, trong đó có chứa mã kích hoạt chương trình.

 

Lưu ý: Mã kích hoạt là Registration Key chứ không phải Product Serial.

 

 

 

- Quay trở lại giao diện chính của PhotoPlus, chọn Help -> Registration Wizard, điền đoạn mã Registration Key có được ở trên vào khung ‘Enter Registration Number’ và nhấn Finish. Bây giờ, bạn đã có thể sử dụng chương trình với đầy đủ các tính năng và không còn gặp phải bất kỳ hạn chế nào về thời gian sử dụng.

 

 

 

Lưu ý: Chương trình khuyến mãi sẽ kết thúc vào ngày 16 tháng 10.

Theo Dantri

 

18 tác phẩm đẹp của nghệ thuật kỹ thuật số

 

06/10/2009 03:38:00

Font size: Decrease 
fontEnlarge 
font

Digital Art là những tác phẩm được tạo từ phần mềm máy tính thay v́ bút vẽ như truyền thống, mang hơi thở của cuộc sống hiện đại nhưng vẫn lay động ḷng người.

 

Điểm đến của tác giả Henryz.

Phía sau sân khấu của Abo Fahod.

An toàn tới trường của Fil Dunsky.

Nữ hoàng sa mạc của Maciej Hajnrich.

Vũ điệu màu sắc của Anthony Giacomino.

Tưởng tượng của Nik Ainley.

Pavlin của Anton Bugaev.

Lư Tiểu Long của Nautilus.

Colombina. Ảnh: Behance Network.

Pavarotti. Ảnh: DesignInspiration.

Hơn cả tưởng tượng của Hanakiraboshi.

Quư bà của thiên nhiên. Ảnh: Behance Network.

Nikon Coolpix Color DNA. Ảnh: Behance Network.

Ảnh: DesignInspiration.

H́nh ảnh được tạo trong đợt ra mắt Adobe CS4 năm 2008. Ảnh: Behance Network.

Thời trang. Ảnh: DesignInspiration.

Ảnh: Behance Network.

Sức mạnh tiềm ẩn (ảnh quảng cáo điện thoại Samsung). Ảnh: Behance Network.

Theo VnExpress

 

Transformers Revenge of the Fallen 720p BluRay x264, Full HD

 

02/10/2009 16:34:00

Font size: Decrease 
fontEnlarge 
font

Đạo diễn: Michael Bay Diễn viên: Megan Fox, Shia LaBeouf, America Olivo, Rainn Wilson Nhà sản xuất: DreamWorks Distribution Thể loại: Hành động, Viễn tưởng Độ dài: 120 phút Quốc gia: Mỹ Năm sản xuất: 2009

 Reduced: 40% of original size [ 1280 x 1024 ] - Click to view full image

 


 Reduced: 40% of original size [ 1280 x 1024 ] - Click to view full image



Transformers 2 : Revenge Of The Fallen
Đại Chiến Robot: Bại Binh Phục Hận

Đạo diễn: Michael Bay
Diễn viên: Megan Fox, Shia LaBeouf, America Olivo, Rainn Wilson
Nhà sản xuất: DreamWorks Distribution
Thể loại: Hành động, Viễn tưởng
Độ dài: 120 phút
Quốc gia: Mỹ
Năm sản xuất: 2009



Đă hai năm kể từ khi Sam Witwicky (Shia LaBeouf) và đội quân Autobot giải cứu loài người khỏi bọn xâm lăng Decepticon. Giờ đây Sam lại đang tất bật chuẩn bị cho mục tiêu lớn nhất trong đời: học đại học xa nhà. Trận chiến kinh hoàng tại Mission City nay đă được chính phủ ém nhẹm.

 Reduced: 40% of original size [ 1280 x 1024 ] - Click to view full image

 



Như những cậu con trai tuổi teen đồng trang lứa khác, Sam rất hào hứng và náo nức mong chờ tới ngày trưởng thành, để được thoát khỏi sự quản lư của cha mẹ (Kevin Dunn và Julie White) và để thề nguyện trọn đời với cô bạn gái Mikaela (Megan Fox). Dĩ nhiên, Sam cũng phải giải thích cho cả người máy bảo vệ Bumblebee về sự ra đi của cậu.



Xa nhà cũng là điều mà phe Autobot hiểu rơ hơn hết. Hy vọng tái tạo lại hành tinh quê hương Cybertron đă tan cùng Khối Lập Phương, các Autobot đành ngụ cư tại trái đất, liên minh cùng quân đội thành lập tổ chức tối mật với tên gọi NEST. Cùng các đồng sự con người như chỉ huy Major Lennox (Josh Duhamel) và Hạ sĩ quan Không quân Hoa Kỳ Epps (Tyrese Gibson), tổ chức NEST TEAM rà soát và tiêu diệt những tàn dư c̣n sót lại của bọn Decepticon ở trái đất. Đáng buồn thay, mong muốn được sống ḥa b́nh bên cạnh con người của các Autobot lại không được chấp nhận



Cố vấn An ninh Quốc gia Theodore Galloway (John Benjamin Hickey) cho rằng sự hiện diện của các Autobot sẽ gây nguy hiểm cho loài người, bằng mọi nỗ lực đă t́m cách tống khứ tất cả các Transformer ra khỏi trái đất và giải tán tổ chức NEST. Optimus Prime, thủ lĩnh của phe Autobot, đồng ư rời khỏi hành tinh của chúng ta theo ư muốn của chính phủ, và đồng thời cũng cảnh báo Galloway phải biết tự xử lư những biến cố xảy ra sau khi Autobot không c̣n ở lại bảo vệ trái đất được nữa.



Trong lúc đó tại trường đại học, Sam phải cố thích nghi với người bạn cùng pḥng huênh hoang và mắc chứng hoang tưởng Leo (Ramon Rodriguez) cũng như chống lại sự cám dỗ trước cô bạn mới quen xinh đẹp Alice (Isabel Lucas). Cuộc sống mới của Sam tiến triển một cách tốt đẹp, cho đến khi vô số h́nh ảnh bí ẩn bất th́nh ĺnh xuất hiện và chớp nháy liên tục trong đầu cậu. Phe Decepticon nhanh ***ng hiểu được điều mà Sam vẫn c̣n mơ hồ, rằng cậu là người duy nhất nắm giữ chiếc ch́a khóa dẫn đến sự thắng bại giữa thiện và ác.

 



Cuộc sống an b́nh vẫn c̣n một chặng đường dài để đạt được. Với sự giúp đỡ của phe Autobot, các chiến sĩ của NEST và cựu điệp viên Simmons, Sam và Mikaela phải t́m ra bí mật lịch sử về sự hiện diện của các Transformers trên trái đất, và bảo vệ hành tinh này khỏi lời nguyền trả thù từ tên Decepticon cổ đại The Fallen.

 

 

 

 

 

 

 

http://www.mediafire.com/?znyam5yn3af
http://www.megaupload.com/?d=KK5WFIQW

 

GIỚI THIỆU PHIM

 

Public Enemies


Kẻ Thù Quốc Gia

 

Đạo diễn: Michael Mann
Diễn viên: Christian Bale, Johnny Depp, Channing Tatum
Nhà sản xuất: Universal Pictures
Thể loại: H́nh sự, Tâm lư
Độ dài: 90 phút
Quốc gia: Mỹ
Năm sản xuất: 2009

Đánh giá: 

4.2
(203 lượt b́nh chọn)

xem onlinexem trailer

 

Giới thiệu:

Câu chuyện xoay quanh John Dillinger, kẻ chuyên thực hiện các vụ cướp nhà băng táo tợn, mục tiêu truy đuổi số 1 của FBI. Không ai có thể ngăn Dillinger và đồng bọn, không nhà tù nào giữ chân được hắn. Là kẻ cướp quyến rũ nhất đối với các thiếu nữ và là nỗi kinh hoàng của các nhà băng. Tuy nhiên, người dân lại xem Dillinger như một kẻ đáng ngưỡng mộ và cảm kích v́ hắn đă thay họ cướp của những nhà băng chuyên trục lợi từ người dân nghèo.

J. Edgar Hoover, đứng đầu tổ chức FBI khao khát dành được danh tiếng lẫy lừng cho cục điều tra của ḿnh. Ông ta đă biến h́nh ảnh Dillinger thành tên tội phạm đáng sợ nhất của nước Mỹ và quyết tâm truy bắt. Nhiệm vụ khó khăn ấy được giao cho đặc vụ Purvis người được mệnh danh là “Clark Gable của FBI” thực hiện.

 

Dillinger và đồng bọn luôn tỏ ra sắc sảo hơn đối thủ của ḿnh, họ luôn giành phần thắng. Chỉ khi được hỗ trợ từ sở điều tra Dallas và kẻ phản bội trong băng đảng Dillinger, FBI mới có cơ hội bằng vàng để tóm gọn băng cướp này.
Khi mọi sự đă kết thúc, người dân Mỹ hiểu rằng cái chết của người hùng đă khai sinh ra một huyền thoại.

 

G-Force: Biệt đội Chuột lang đến Việt Nam

 

29/08/2009 10:37 (GMT +7)

- Đừng vội coi thường những chú chuột lang bé nhỏ mà thường ngày chúng ta chỉ coi như thú cưng sống trong lồng cả đời. Biệt đội chuột lang tập hợp 4 điệp viên siêu hạng toàn là những chú chuột được đào tạo bài bản làm việc cho FBI sẽ làm khán giả ngạc nhiên trong bộ phim G-Force do hăng Walt Disney sản xuất.

Biệt đội chuột lang - Nhiệm vụ bất khả thi

Ben là một nhân viên trực thuộc FBI đảm trách một chương tŕnh tuyệt mật của chính phủ nhằm đào tạo động vật trở thành những công cụ đắc lực cho FBI. Ben và chương tŕnh nghiên cứu của anh đang đứng trước nguy cơ bị FBI đ́nh chỉ, cơ hội duy nhất là Ben phải chứng tỏ công việc của ḿnh đă đạt được kết quả.

Nhóm điệp viên do Ben đào tạo gồm hai chú chuột lang Darwin (trưởng nhóm), Blaster (chuyên trách vũ khí và liên lạc), cô chuột lang cái Juarez, chuột chũi Speckles (chuyên gia công nghệ cao) và ruồi Mooch (chịu trách nhiệm dẫn đường) nhận nhiệm vụ đột nhập vào nhà Leonard Saber - một đối tượng bị FBI theo dơi nhiều năm nay.

/Library/images/28/2009/08/7/5.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/3.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/4.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/2.jpg

G-Force - Biệt đội chuột lang

Nhiệm vụ của biệt đội chuột lang là tải bằng được tài liệu mật trong máy tính của Leonard với hi vọng bằng thành tích này Ben và các điệp viên động vật của ḿnh sẽ khiến các vị lănh đạo FBI đổi ư.

Với sự tinh nhuệ và tài năng đặc biệt, Darwin dẫn dắt các thành viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời Darwin c̣n phát hiện ra âm mưu hủy diệt thế giới của Leonard. Tuy nhiên đến khi Kip Killian - người giám sát của FBI tới thẩm tra th́ kết quả lại không được thành công như mong muốn, hệ quả là toàn bộ cơ sở vật chất cùng các loài động vật mà Ben cùng cô trợ lí Marcie đang nghiên cứu bị tịch thu. Không c̣n cách nào khác, các chú chuột lang, chuột chũi phải chạy trốn trước khi bị bắt.

Vô t́nh bị đem tới một cửa hàng thú nuôi, Juarez và Blaster bị một gia đ́nh mua mang đi mất. Tuyệt vọng để t́m đường thoát, chuột chũi Speck giả chết nhưng lại bị vứt ra xe chở rác trước khi thoát ra được bên ngoài.

Với sự trợ giúp của một chú chuột lang to béo - thành viên cũ của cửa hàng thú nuôi tên Hurley, Darwin thoát ra được bên ngoài cùng Hurley, cả hai t́m cách liên lạc với Ben. Cùng lúc đó, nhóm bị bắt làm thú nuôi Blaster và Juarez cũng thoát khỏi tay mấy cô cậu “chủ” và tái hợp với Ben. Darwin nhận ra âm mưu của Leonard là biến toàn bộ đồ điện gia dụng trên thế giới trở thành các cỗ máy “giết người” bằng con chip của công ty ḿnh.

G-Force (viết tắt của Guinea pig - Force)- Biệt đội chuột lang chính thức thành lập với nhiệm vụ “cao cả” là chặn đứng âm mưu của Leonard…

G-Force - Bộ phim live-action 3D đầu tiên của Walt Disney

Từng làm khán giả ở mọi lứa tuổi sửng sốt với h́nh ảnh 3D sống động, sắc nét và uyển chuyển trong những bộ phim hoạt h́nh kinh điển của ḿnh, Walt Disney vẫn chưa bao giờ sản xuất một bộ phim kết hợp giữa thể loại live-action (người đóng kết hợp hoạt h́nh) với công nghệ 3D hiện đại.

Cách đây không lâu, Walt Disney cũng từng cho ra mắt hai sản phẩm ứng dụng công nghệ Dolby 3D là Hannah Montana & Miley Cyrus: Best of Both Worlds ConcertJonas Brothers: The 3D Concert Experience, tuy nhiên đây chỉ là hai phim ca nhạc của ngôi sao tuổi teen Hannah Montana và ban nhạc anh em đ́nh đám Jonas chứ không phải là phim điện ảnh.

Thời đại ngày nay, công nghệ hiện đại cùng kĩ xảo điện ảnh tiên tiến hoàn toàn có thể giúp Walt Disney thực hiện những bộ phim hoành tráng nhưng việc kết hợp giữa live-action và 3D vẫn chưa được thực hiện cho đến khi G-Force chính thức ra mắt cuối tháng 7 vừa qua.

/Library/images/28/2009/08/7/6.jpg

 

/Library/images/28/2009/08/7/8.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/7.jpg

G-Force được ứng dụng công nghệ Dolby 3D tiên tiến, ngoài những nhân vật người đóng th́ tuyến nhân vật chính gồm các chú chuột lang, chuột hamster và một số loài động vật khác xuất hiện trong phim đều là sản phẩm của đồ họa vi tính.

Như những bộ phim 3D trước của ḿnh, G-Force của Walt Disney vẫn làm khán giả trầm trồ và ngạc nhiên với tạo h́nh các chú chuột lang (hay c̣n gọi là con bọ) sống động như thật. Các nhân vật chính từ Darwin, Blaster, Hurley hay Juarez đều có cử động rất uyển chuyển từ cái nháy mắt, vẫy tai hay cử động tay chân v.v...

/Library/images/28/2009/08/7/14.jpg

Độ chi tiết và “thật” của tạo h́nh các chú chuột c̣n được Walt Disney xử lí tinh tế đến mức khán giả c̣n cảm nhận được bộ lông mượt mà cũng chuyển động nhịp nhàng theo những cử động của chúng.

Nhà sản xuất - Đạo diễn - Biên kịch: Những cặp bài trùng

Nhà sản xuất của G-Force là Jerry Bruckheimer - nhà sản xuất từng cộng tác lâu năm với hăng Disney và Paramount. Với Hollywood th́ cái tên Jerry không c̣n quá xa lạ bởi ông từng đứng tên sản xuất những bộ phim truyền h́nh ăn khách hay điện ảnh “bom tấn” như CSI, Cold Case, Top Gun, Con Aire, Pirates of the Carbbean hay Nation Treasure

C̣n đạo diễn của phim là Hoyt Yeatman. Hoyt là chuyên gia phụ trách hiệu ứng kĩ xảo, từng cộng tác với Jerry Bruckheimer trong một số phim như The Rock, ArmageddonG-Force là bộ phim thứ hai do anh làm đạo diễn, và đây cũng là phim 3D đầu tiên của nhà sản xuất Jerry và đạo diễn Hoyt. Điều thú vị là Hoyt cũng đóng một vai rất nhỏ trong phim.

Kinh nghiệm nhiều năm với hiệu ứng kĩ xảo cho các phim của Hollywood, đạo diễn Hoyt hoàn toàn có lợi thế khi hiện thực hóa kịch bản G-Force. Trước G-Force cũng từng có nhiều bộ phim thuộc thể loại live-action thành công, nhưng điểm đặc biệt của G-Force là đă tận dụng được ứng dụng 3D để làm phim, bởi vậy những màn rượt đuổi, hành động kịch tính trong phim càng trở nên lôi cuốn và tạo ấn tượng mạnh cho khán giả.

/Library/images/28/2009/08/7/15.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/16.jpg

 

/Library/images/28/2009/08/7/13.jpg

Những chú chuột tưởng chừng vô hại...

Kịch bản của Biệt đội chuột lang ngoài đạo diễn Hoyt phụ trách lên ư tưởng c̣n có sự tham gia của bộ đôi biên kịch Marianne và Cormac Wibberley. Đôi vợ chồng biên kịch ngoài đời đă cùng nhau viết kịch bản từ những năm 1991. I Spy, Charlie’s Angels 2, Bad Boys II, hai phần của National Treasure đều là những "bom tấn" mà nhà Wibberley từng ghi dấu ấn, trong đó G-Force là bộ phim thứ 8 trong sự nghiệp của họ.

Biệt đội chuột lang - Hành động hấp dẫn nhưng chưa hoàn hảo

G-Force ra mắt khán giả vào 24/7 tại Mỹ, ngay lập tức bộ phim đă leo lên vị trí số 1 trong bảng xếp hạng phim ăn khách nhất trong tuần, vượt qua cả Harry Potter và Hoàng tử Lai với 31.7 triệu USD.

/Library/images/28/2009/08/7/10.jpg

Đoạn trailer đầu tiên của phim tung ra cùng thời điểm với Bedtime Stories, sau đó đoạn trailer thứ 2 được giới thiệu cùng với phim tài liệu Earth và “bom tấn” Up.

Ngay từ những phút đầu phim, người xem đă bị cuốn hút bởi nhịp phim nhanh và những câu thoại dí dỏm của các nhân vật chính. Nhiệm vụ bất khả thi của G-Force hấp dẫn khán giả bởi những pha hành động thứ thiệt: cũng có ẩn nấp, đột nhập, đánh lạc hướng, công nghệ hiện đại, vũ khí tối tân… Các chú chuột lang cho người xem thấy các pha hành động không phải chỉ dành cho con người mà cả loài động vật bé nhỏ cũng có thể thực hiện được.

Bên cạnh đó, màn đua xe tốc độ cao, chiến đấu với “máy pha café - robot” cùng cuộc chiến với kẻ hủy diệt khổng lồ cuối phim thực sự là những màn giải trí hấp dẫn không thể bỏ qua.

Sự nhanh nhạy, tinh nhuệ thành thục nhưng đôi khi cũng “ngốc nghếch đáng yêu” của các điệp viên chuột lang là điểm mấu chốt khiến các khán giả nhỏ tuổi thích thú, đặc biệt đối với những bạn nhỏ nuôi thú cưng là những chú chuột lang hay hamster th́ được chứng kiến thú yêu của ḿnh "hành động" trên phim là điều hết sức thú vị.

G-Force thành công trong việc tạo ra một nhóm điệp viên tài giỏi, chuyên thực thi những nhiệm vụ mà FBI có thể mất hàng năm trời mới làm được nhưng lại toàn là chuột. Biệt đội chuột lang không cố t́nh nhân cách hóa các con vật mà chỉ đơn giản tạo ra và đưa chúng vào những t́nh huống trong phim để thể hiện chuột cũng hao hao “con người”.

Nếu gạt bỏ sự thật là các điệp viên FBI là những chú chuột, th́ G-Force cũng có thể trở thành một bộ phim hành động thứ thiệt của Hollywood với đẩy đủ những màn rượt đuổi, chiến đấu hoành tráng hay đột nhập hồi hộp đến thót tim.

 

/Library/images/28/2009/08/7/11.jpg

 

/Library/images/28/2009/08/7/12.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/9.jpg

... lại là những đặc vụ siêu hạng của FBI

Bên cạnh đó, dàn diễn viên lồng tiếng và diễn viên tham gia diễn xuất trong phim cũng thuộc hạng "nhất nh́" của Hollywood hiện nay. Vào vai "kẻ t́nh nghi" có âm mưu hủy diệt thế giới là Bill Nighy - nam diễn viên ḱ cựu đến từ Anh từng đoạt giải Quả cầu vàng, nam diễn viên gốc Canada Will Arnett vào vai đặc vụ "xấu tính" Kip Killian c̣n nam diễn viên hài Zach Galifianakis thủ vai Ben. Về bên phía dàn diễn viên lồng tiếng đều là những diễn viên tên tuổi như Sam Rockwell (Darwin), người đẹp Tây Ban Nha từng giành tương vàng Oscar Penelope Cruz (Juarez), Tracy Morgan (Blaster), Nicolas Cage (Speckles), Jon Favreau (Hurley)...

Tuy nhiên, bên cạnh những “ưu điểm” đạt được, G-Force lại mắc phải một số sai lầm khiến bộ phim không thể trở thành một tác phẩm hoàn thiện tiêu biểu của thể loại live-action 3D mới mẻ.

Thời lượng của bộ phim chỉ kéo dài 90 phút, sự eo hẹp về thời gian này được lí giải bởi thể loại hành động hài như G-Force khó mà có thể “tô vẽ” thêm câu chuyện. Nhưng chính v́ sự “dè dặt” thời gian này mà các nhân vật trong phim bị cuốn vào quá nhiều những cảnh chiến đấu dồn dập mà quên đi khía cạnh “cá tính” riêng.

Các chú chuột lang tuy mỗi người một tính nhưng sự thể hiện trên phim lại quá mờ nhạt nếu không muốn nói là bị lờ đi. Các thành viên trong nhóm không tạo được dấu ấn cá nhân, nên việc có một nhân vật nào đó để lại được ấn tượng sâu sắc cho khán giả (ngay cả với khán giả nhỏ tuổi) khó mà thực hiện được.

/Library/images/28/2009/08/7/17.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/18.jpg

 

/Library/images/28/2009/08/7/21.jpg

 

/Library/images/28/2009/08/7/19.jpg

/Library/images/28/2009/08/7/20.jpg

Dàn diễn viên lồng tiếng trong G-Force

Hành động chiếm hết thời gian của G-Force, nên ngay cả yếu tố hài hước, dí dỏm cũng bị mờ nhạt. Đôi khi khán giả chỉ bật cười v́ một vài câu nói ngốc nghếch hay b́nh luận châm biếm của các nhân vật mà họ không thể t́m được trong phim một chi tiết đáng nhớ hay “đắt giá” nào. Đó là chưa kể đến chuyện một vài t́nh tiết hài khiến khán giả nhỏ không hiểu nghĩa (bởi vậy bộ phim đă được xếp loại PG - cần sự hướng dẫn của cha mẹ).

Nói đi nói lại, G-Force vẫn là một bộ phim mang tính giải trí cao của Walt Disney ra mắt trong đợt phim hè vừa qua. Có những b́nh luận tích cực c̣n cho rằng đây là “bom tấn nguyên bản” nhất của năm nay sau hàng loạt những “bom tấn” chuyển thể, làm phần tiếp hoặc làm lại khác…

G-Force cũng là bộ phim hành động hài thu hút lượng lớn các khán giả nhí ở mọi lứa tuổi, những người yêu thích chuột lang, hamster hay đơn giản là bộ phim mà cả gia đ́nh cùng xem để có những giây phút thoải mái thư giăn trong ngày hè. Thông điệp mà G-Force mang lại đằng sau những nhiệm vụ hấp dẫn của các điệp viên chuột đó là đề cao sự đoàn kết, t́nh bạn khăng khít giữa các nhân vật chính, bên cạnh đó sự bất ngờ cuối phim về kẻ ác thực sự cũng là lời cảnh tỉnh cho con người về những hành động phá hoại môi trường tự nhiên của các loài động vật.

G-Force - Biệt đội Chuột lang

Hăng sản xuất: Walt Disney Pictures

Xưởng phim: Jerry Bruckheimer Pictures & Walt Disney Pictures

Đạo diễn: Hoyt Yeatman

Kịch bản: Cormac Wibberley, Marianne Wibberley, Hoyt Yeatman

Xếp loại: PG

Diễn viên: Nicolas Cage, Penélope Cruz, Steve Buscemi, Sam Rockwell, Tracy Morgan, Will Arnett, Bill Nighy, Zach Galifianakis...

Ngày công chiếu: 24/7/2009

Thời lượng: 90 phút

Kinh phí: 80 triệu USD

Doanh thu: 139.5 triệu USD (sau 4 tuần công chiếu)

Bộ phim làm thế giới phải... nín thở!

 

 

31/03/2010 11:20 (GMT +7)

Emmanuelle - một cái tên Pháp (giống cái) sang trọng với phát âm nghe rất êm tai và lăng mạn… nhưng đó cũng từng là một cái tên đầy tranh căi trong lịch sử văn hóa thế giới! Đặc biệt khi nó trở thành bộ phim EmmanuelleKhi tổng thống Pháp phải ra lệnh cấm!

Năm 1957, văn đàn Pháp sôi sục với cuốn tiểu thuyết bị cho là “khiêu dâm” Emmanuelle - The Joys of a Woman của tác giả khuyết danh. Nhưng sự nổi tiếng quá nhanh của cuốn tiểu thuyết đă tạo sức ép cực lớn khiến ban biên tập của nhà xuất bản phải tiết lộ tên tác giả là Emmanuelle Arsan. Thực chất Emmanuelle Arsan chỉ là bút danh của Marayat Rollet-Andriane, một nữ văn sĩ Pháp gốc Á sinh năm 1932 tại Bangkok, Thái Lan. Cuốn tiểu thuyết Emmanuelle của bà phơi bày tỉ mỉ các “kỳ tích” pḥng the của Emmanuelle – “người vợ chán nản” của một nhà ngoại giao Pháp tại Thái Lan.

Cuốn sách thật sự gây ra một cơn địa chấn ở Pháp – trở thành một trong những nhân tố đầu tiên khơi mào cuộc “cách mạng t́nh dục” sẽ bùng nổ khắp châu Âu sau đó vài năm. Những người bảo thủ chiếm đa số trong nghị viện Pháp đă phản ứng quyết liệt, đến mức chính phủ của Tổng thống Pháp Charles DeGaulle đă phải ra lệnh cấm lưu hành vĩnh viễn tiểu thuyết Emmanuelle trên toàn nước Pháp!

Emmanuelle bước lên màn ảnh

Emmanuelle xuất hiện đầu tiên trên màn bạc vào năm 1969 với bộ phim Ư Io, Emmanuelle do Erika Blanc thủ vai chính. Bộ phim thất bại nặng và nhấn ch́m sự nghiệp của đạo diễn Cesare Canevari xuống bùn.

Ngày 15/07/1974 là một bước ngoặt lớn… Chính phủ mới của Tổng thống Pháp Pompidou đă “ân xá” cho cuốn tiểu thuyết Emmanuelle. ASP (Alain Siritzky Productions) - một hăng phim nhỏ ở Pháp - từ lâu đă mua được quyền chuyển thể cuốn sách lên màn ảnh, nhanh chóng triển khai sản xuất bộ phim. Vai tṛ đạo diễn được giao cho một người có cái tên lạ hoắc là Just Jaeckin - nhà nhiếp ảnh thời trang và thiết kế nội thất, chưa làm phim bao giờ!

Việc lựa chọn diễn viên thủ vai chính Emmanuelle là công việc quan trọng và khó khăn nhất. Bởi hầu như bất cứ nữ diễn viên nào đọc xong kịch bản đều… ù té chạy, v́ nó quá trần trụi và táo bạo chưa từng thấy!... Cuối cùng người được chọn là một cái tên cũng lạ hoắc đến từ Hà Lan và cũng chưa đóng phim bao giờ: Sylvia Kristel.

Sylvia Kristel đoạt ngôi vương miện Hoa hậu truyền h́nh châu Âu năm 1973. Trong buổi quay một sản phẩm quảng cáo, một người đại diện tiến đến hỏi Syvia có muốn sang pḥng bên, ở đó đang tổ chức thử vai một bộ phim, hay không. Cô ṭ ṃ bước sang… Sau này Sylvia Krystel nhớ lại buổi casting định mệnh đó như sau: “… Lúc ấy tôi đang mặc một cái váy dài mỏng dài đến giữa đùi, có điểm thêm những hoa văn tinh tế ở cầu vai. Tôi ngồi xuống và mỉm cười. Lúc ấy tôi 20 tuổi tràn đầy sức sống và khao khát chinh phục. Tôi tranh thủ lúc họ hỏi một câu nhạt nhẽo về tŕnh độ học vấn của ḿnh để hạ thấp bờ vai từ từ về phía trước… cho tới khi một cái cầu vai bị rơi ra… rồi tiếp đến cái c̣n lại…”. Lúc ấy cả Sylvia Kristel cũng nghĩ rằng, cái kịch bản “trần như nhộng” này sẽ không bao giờ được cơ quan kiểm duyệt cho qua, đồng nghĩa bộ phim làm ra sẽ không bao giờ được phát hành. Sylvia Kristel nhận lời với lư do duy nhất: Emmanuelle sẽ được quay gần như hoàn toàn tại Thái Lan, đó là cơ hội lư tưởng để hai vợ chồng cô được đi chơi miễn phí!

Và thành một thương hiệu toàn cầu
 
Khác với nhiều phim cố gắng để tránh bị xếp loại X (phim khiêu dâm), bộ phim Emmanuelle “chính gốc Pháp” này lại… cố gắng để đạt loại X! Cần phải khẳng định rằng Emmanuelle không phải là một bộ phim sex, nó chỉ là một phim t́nh cảm táo bạo và trần trụi hơn bất cứ một bộ phim nào cho đến thời điểm đó. Nó tiến sát đến ranh giới của những ǵ được chấp nhận trên màn ảnh. Nhưng điều quan trọng là nó xuất hiện đúng thời điểm, cộng với cơn sốt “cách mạng t́nh dục” thông thoáng đă làm thay đổi những quy tắc kiểm duyệt. Emmanuelle được công chiếu rộng răi trong những rạp “phổ thông” chứ không phải rạp dành riêng cho những người mê phim sex.
 

Ảnh minh họa


Trong 14 tuần đầu tiên sau khi phát hành, 2,5 triệu đàn ông Pháp đă xếp hàng trước cửa rạp! Tổng cộng, 1/7 dân số Paris đă xem phim này. Rạp La Triumph ở Champs-Élysées đă khiến cho Sylvia Kristel phải kinh ngạc với hàng đoàn người rồng rắn xếp hàng. Hơn thế nữa, nó tiếp tục được chiếu cũng trong rạp đó suốt 13 năm! Đến nay, Emmanuelle vẫn là bộ phim được nói đến nhiều nhất, lên báo nhiều nhất, tranh căi nhiều nhất… và nhiều người xem nhất trong lịch sử điện ảnh Pháp!

Sang Mỹ, phim không bị kiểm duyệt, nhưng bị dán nhăn nặng nhất là NC-17 (trên 17 tuổi mới được mua vé xem phim). Các nhà tiếp thị Mỹ của Emmanuelle đă dùng chiến thuật “phóng đại”. Một trailer quảng cáo đă hét lên: “Mười hai triệu đàn ông Pháp đă từng xếp hàng để chờ xem nó!”. Ở Anh các nhà kiểm duyệt ngần ngại trước những cảnh quá nhạy cảm trong phim, nhưng cuối cùng, cảnh Emmanuelle bị hăm hiếp như là một phần bài học “giáo dục giới tính” của cô, là cảnh duy nhất bị cắt. Sự châm chước nhẹ tay này, đánh dấu một khoảnh khắc mang tính bước ngoặt trong công tác kiểm duyệt phim của nước Anh. James Ferman, người khi đó là nhân viên kiểm duyệt phim của Anh, kể lại là đă xem Emmanuelle trong một rạp hát đầy những nhóm phụ nữ trẻ. Ferman bảo rằng đó là “bộ phim X đầu tiên không dành riêng cho giới mày râu”. Trong một cảnh Emmanuelle nằm phía trên trong suốt một cảnh t́nh tự, tại một rạp hát ở Paris, một nhóm người Nhật đấu tranh cho quyền phụ nữ đă đứng lên vỗ tay. Những người phương Tây đấu tranh cho nữ quyền cũng cho rằng ư nghĩa của bộ phim là tích cực.

Emmanuelle cũng là bộ phim ăn khách trên quốc tế và đạt được doanh thu toàn cầu ước tính lên đến 300 triệu Franc. Trong một cuộc phỏng vấn, Sylvia Kristel cho biết con số thật sự, nếu tính cả video, là gần 650 triệu Franc.

C̣n Sylvia Kristel? Có thể khẳng định tất cả những kỳ tích kể trên của bộ phim đều do cô tạo ra. Với Emmanuelle, cô đă biến bộ phim thành show diễn vĩ đại nhất của cuộc đời ḿnh. Kristel được trả thù lao chỉ 6.000 USD cho vai Emmanuelle, và vội vă bán đứt phần lợi tức được chia trên doanh thu nội địa của bộ phim chỉ với giá 150.000 USD. Thật tiếc bởi doanh thu nội địa sau này đă lên đến 26 triệu USD (thời điểm 1974).

Rút kinh nghiệm, từ năm 1975, khi kư hợp đồng làm tiếp Emmanuelle 2, Krystel đă thương lượng để có hợp đồng 100.000 USD cho vai diễn, cộng với khoản phần trăm lợi nhuận sau phim kếch sù. Nhưng trên tất cả, Emmanuelle đă biến Sylvia Kristel trở thành một siêu sao lớn với đủ thứ những vinh quang và xa hoa kèm theo. Cô chỉ sai lầm khi chuyển sang Hollywood lập nghiệp – nơi đây không có chỗ cho những diễn viên chỉ hoàn toàn dựa vào cảnh khỏa thân như cô!

Cuộc dạo chơi cuối cùng của Kristel với tư cách Emmanuelle là khi cô trở lại Pháp để xuất hiện trong phần 3: Goodbye, Emmanuelle (1977). Kristel bước ra khỏi vai này vào những năm 1980, nhường chỗ cho các nữ diễn viên trẻ hơn (nhưng không một ai thành công như Kristel). Rồi sau đó, Krystel trở lại trong bộ phim thứ bảy và tiếp tục đóng vai phụ là một Emmanuelle lớn tuổi trong các bộ phim truyền h́nh cáp.

Phần cuối Goodbye, Emmanuelle lại là sự khởi đầu của một thương hiệu ăn khách mà đến nay đă đẻ ra hơn 60 bộ phim ăn theo của đủ mọi quốc tịch, đủ mọi thể loại từ kinh dị cho đến giả tưởng. Hầu hết là nhảm nhí, chỉ những phim và loạt phim truyền h́nh do hăng phim ASP sản xuất mới là chính thức và được dựa theo nhân vật do Emmanuelle Arsan tạo ra.

C̣n ǵ đọng lại sau khi xem Emmanuelle? Đó là ca khúc chủ đề bất hủ Emmanuelle do ca nhạc sĩ người Pháp Pierre Bachelet sáng tác và tŕnh bày. Với chất giọng trầm ấm ngọt ngào, Bachelet đă biến Emmanuelle trở thành một trong những ca khúc nhạc phim nổi tiếng và được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

Theo Bá Vũ

 

Audio/Video To Exe 1.5.2.1 - Chuyển nhạc/video sang thành file exe ( tự chạy )

 

Sunday, 15. June 2008, 02:47:12

 

Đây là một phần mềm giúp chuyển đổi định dạng bản nhạc/video sang định dạng được hỗ trợ chắc chắn sẽ là một “bạn đồng hành” rất hữu ích. Phần mềm Audio/video to exe sẽ giúp bạn chuyển đổi giữa các định dạng âm thanh và video cũng như trích xuất âm thanh từ các video.

155772_small

Các định dạng chương tŕnh có thể chuyển đổi gồm: 3gp, aac, ac3, exe, flac, flv, gif, mp2, mp3, mp4, mpc, mpg, nut, ogg, ra, rm, swf, vob, voc, wav, wma, wmv…

Đặc biệt, chương tŕnh c̣n giúp bạn tạo ra những món quà âm nhạc thú vị, bất ngờ gửi đến bạn bè, người thân yêu của bạn bằng cách chuyển các bản nhạc hay video thành các tập tin tự phát (định dạng exe). Nghĩa là người nhận có thể thưởng thức ngay quà tặng chỉ với một cú kích đôi chuột mà không cần phải nhờ đến bất ḱ chương tŕnh chơi nhạc, video hỗ trợ nào khác.

Download

 

Alldj DVD Ripper: Chuyển từ DVD ra mọi định dạng với chất lượng cao

 

Thursday, 12. June 2008, 11:31:54

 

:wizard:Đây là phần mềm “rip” DVD được đánh giá là mạnh nhất v́ chẳng những nó cho phép bạn copy DVD vào ổ cứng hay chuyển đổi ra rất nhiều định dạng với chất lượng gần như nguyên gốc, mà c̣n v́ nó có khả năng truy xuất vào những đĩa DVD có đặt các loại mă bảo vệ khác nhau...

:clown:Hiện tại, có khá nhiều phần mềm giúp bạn thực hiện việc rip (trích) phim từ DVD, tuy nhiên mạnh nhất phải nói là Alldj DVD Ripper. Nói mạnh nhất bởi v́ phần mềm này:

- Cho phép bạn thực hiện thao tác rip ngay cả trên các đĩa DVD có khóa CSS, Region, RCE, Sony ArccOS... Điều này có nghĩa là bạn sẽ dễ dàng thực hiện việc rip trên hầu hết các đĩa DVD mà không sợ giới hạn về vùng (region) như một số chương tŕnh khác.

- Copy DVD vào ổ cứng dưới dạng AVI, DivX, Xvid, MP4, DVD (VOB), VCD (SVCD), MOV(Apple video), WMV, ASF, FLV (Flash video).

- Chuyển đổi (convert) DVD ra AVI, Divx, Xvid; DVD ra MPEG1, MPEG2, SVCD, VCD; DVD to WMV, ASF file; DVD ra MP; DVD ra MOV; DVD ra FLV; trích phần audio ra thành file MP3.

- Giữ được chất lượng h́nh ảnh gần như DVD gốc sau khi chuyển đổi. Thêm vào đó, thời gian chuyển đổi 1 chapter khá nhanh, mất khoảng 5 - 7 phút cho một bản rip video ca nhạc.

Giao diện chương tŕnh được bố trí dưới dạng các thẻ. Chức năng chuyển đổi được chia thành 2 phần: Video và Audio.

1. Chuyển đổi video

Chức năng chuyển đổi video chia thành các định dạng chính: AVI, MPEG, MOV, FLV, WMV, MP4. Mỗi một định dạng sẽ bao gồm 2 thiết lập:

- Video: định các xác lập mà bạn sẽ xuất ra bao gồm: Video format (định dạng video), Video Frame Rate (số khung h́nh), Video Quality (chất lượng file video, tính bằng Kbps). Thường, các thiết lập này bạn cứ để như mặc định là tốt nhất.

- Audio: chọn chuẩn âm thanh xuất ra như: AC3, MP2, AAC hay WMAV2... Lưu ư: mỗi chuẩn âm thanh sẽ đi kèm với bitrate (Audio Quality) và tần số đáp ứng (Audio Sample Rate), việc thay đổi các giá trị không phù hợp có thể phát sinh file bị lỗi, lúc đó bạn hăy thay đổi lại từng giá trị cho phù hợp (trường hợp không biết rơ, bạn cứ để các xác lập mặc định).

Ví dụ trường hợp bạn chuyển từ DVD sang MPEG, th́ phần chuẩn âm thanh bạn để là AC3 (bitrate 192 Kbps, 48000 Hz) hoặc (128 Kbps và 32000 Hz)...

Ngoài ra c̣n 2 thiết lập khác cũng quan trọng không kém: Volume (mặc định là +8db, bạn để nó về 0), High Quality Engine (kỹ thuật nội suy, bạn cứ đánh dấu chọn vào đây, thời gian chuyển đổi sẽ chậm đôi chút nhưng bù lại chất lượng sẽ gần với bản gốc nhiều hơn).

Để chọn nơi lưu file mặc định khi xuất, bạn bấm nút Option. Tại mục Output Folder, bấm Browse và chọn thư mục cần lưu.

2. Chuyển Audio

Ngoài video, bạn cũng có thể xuất sang audio với định dạng MP3. Chức năng này thực hiện trong thẻ To Music với các tùy chọn và thiết lập tương tự như phần video.

Thao tác chuyển đổi khá đơn giản, bạn bấm vào nút Disc và chọn ổ DVD-ROM hay Path rồi chọn đường dẫn chứa file. Danh sách các file trên đĩa sẽ được nạp vào, để chuyển file nào bạn đánh dấu chọn trước file đó. Sau đó, lựa chọn định dạng và các thiết lập cần thiết, đánh dấu chọn vào mục High Quality Engine và bấm Start để bắt đầu quá tŕnh chuyển đổi.

Ngoài ra, bạn cũng có thể thực hiện việc trích xuất file thành từng đoạn, bằng cách bấm vào tên clip, bên trái khung hiển thị. Bạn sẽ thấy hai dấu mốc cho điểm đầu và cuối, bạn hăy di chuyển hai dấu mốc này đến vị trí thích hợp, khi đó khoảng thời gian bắt đầu và kết thúc sẽ thay đổi theo và file video sẽ chuyển đổi trong phạm vi này.

Phần mềm tương thích Win9x/2000/XP/Vista, tải bản dùng thử tại: http://www.alldj.com/dvd_ripper/alldj_dvd_ripper.exe.


TRẦN LÊ TRUNG HẬU trung hau_mail@yahoo.com.vn

 

AIO Sound Enhancement for Media Player: Bộ công cụ cải thiện chất lượng âm thanh

 

Thursday, 12. June 2008, 03:50:06

 

Khi nói đến những công cụ cải thiện chất lượng âm thanh, nhiều người thường nghĩ đến DFX mà không biết bên cạnh đó c̣n có nhiều thứ khác nữa. Chỉ cần có bộ công cụ tổng hợp AIO Sound Enhancement for Media Player là bạn sẽ có hầu như mọi thứ trong tay, sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu nghe nhạc, xem phim chất lượng cao của ḿnh trên máy tính.

1208745711_A1

Các tŕnh player thông dụng như Windows Media Player hay Winamp thường đi kèm với nó là các plugin hỗ trợ. Các plugin này có thể là audio, video (codec)..., trong số đó nổi tiếng là các plugin chuyên về xử lư âm thanh đến từ Fxsound và SRSLab.

AIO Sound Enhancement (ASE) là bộ công cụ tổng hợp gần như đầy đủ các plugin xử lư âm thanh thường được sử dụng như: DFX for WMP, DFX for Winamp, SRS Audio Sandbox và VolumeLogic, sẽ hỗ trợ và cải thiện đáng kể chất lượng về âm khi bạn nghe nhạc hay xem phim bằng các tŕnh ứng dụng này.

1. DFX Sound Enhancement for Windows Media 8.36

Đây là một plugin rất quen thuộc đối với những người yêu nhạc. DFX hỗ trợ phát triển âm thanh cho các môi trường: MP3, Windows Media, Internet radio và các định dạng audio khác. Khi được bật, DFX sẽ cải thiện đáng kể chất lượng âm thanh phát ra (âm thanh sẽ nghe lớn hơn, âm trầm đều đặn), một công cụ rất thích hợp cho người yêu nhạc.

Chức năng của DFX được chia thành 5 phần:

- HyperBass: tạo chiều sâu và độ trầm cho các định dạng nhạc nén.

- Dynamic Boost: tăng cảm nhận về cường độ của âm, đặc biệt là khi sử dụng hệ thống nhạc trên Internet, hệ thống phát nhạc của bạn sẽ cho ra âm thanh to gấp 2 lần.

- 3D surround: tái hiện âm thanh 3 chiều, âm thanh sẽ nghe to hơn, rơ hơn và tạo cảm giác như xoay ṿng.

- Ambience: phục hồi trung thực giai điệu. Chức năng phục hồi được thực hiện bằng công nghệ Patent-pending, kết hợp các giai điệu âm tần cao để thay thế những giai điệu đă mất trong quá tŕnh giải mă.

Phiên bản DFX dành cho cả WMP và Winamp.

2. SRS Audio Sandbox 1.6.3

SRS Audio Sandbox là một phần mềm giúp tăng cường âm thanh cho các hệ thống laptop, desktop bằng cách tăng độ sâu và điều ḥa âm.

Audio Sandbox nổi trội nhờ vào các công nghệ hiện đại và độc quyền của SRS như SRS 3D , SRS Focus, SRS TruBass, SRS Defination... mang lại hiệu ứng giả lập, cho âm thanh trong và rơ nét.

So với các plugin khác như DFX for WMP, SRS Audio Sandbox thể hiện tốt âm cao, đặc biệt là âm thanh ṿm, rất thích hợp khi bạn chơi DVD với hệ thống stereo của ḿnh. Nhờ vào các kỹ thuật giả lập đặc biệt (TrueSurround XT, WoWHD, Circle Surround), bạn sẽ dễ dàng cảm nhận được độ sâu của âm, hiệu ứng vật thể, hiệu ứng vang hết sức chi tiết.

Thêm vào đó, với việc cấu h́nh nguồn âm (4.1, 5.1 hay surround) cùng khả năng giả lập nhiều môi trường (music,video, game), SRS Audio thực sự là một plugin cần có cho WMP.

Ứng với mỗi tùy chọn công nghệ, bạn điều có thể cân chỉnh các thông số tương ứng của nó qua nút Advanced Controls.

3. Volume Logic for Windows Media 1.3.1

Volume Logic là công cụ tái tạo âm thanh bằng cách điều chỉnh động các hệ thống cân bằng (balance). Volume Logic giúp cải thiện âm thanh trong môi trường thực nghiệm số. Chương tŕnh hỗ trợ 5 bộ cân chỉnh động, giúp điều chỉnh hiệu ứng âm thanh chỉ trong vài giây. Nhờ đó, các âm có tần số thấp sẽ được tăng cường ở mức cho phép trong thời gian thực.

Thông số điều chỉnh gồm có:

- Preset (mẫu tham khảo) bao gồm nhiều tùy chọn về hiệu chỉnh âm như: Hip-hop, Jazz, Popp, Rock, Piano, Vocal...

- Bass boost: tăng âm trầm mà không làm ảnh hưởng đến sự thay đổi của các tần số khác. Kết quả trả về sẽ giảm thiểu tối đa độ nhiễu tín hiệu và tăng chất lượng bass.

- Drive: cường độ áp dụng (dịch chuyển thanh trượt về phía phải để tăng độ lớn của âm, dịch về trái để âm nhỏ dần).

Trọn bộ cài đặt có thể tải về từ địa chỉ: http://www.mediafire.com/?yhzmwy3abhd.


TRẦN LÊ TRUNG HẬU trung hau_mail@yahoo.com.vn

 

Reezaa 2.07: Trích và chuyển đổi mọi file audio/ video ra MP3

 

Thursday, 12. June 2008, 03:15:49

Dù bản nhạc mà bạn yêu thích nằm trên đĩa audio, trên Internet, trong một video flash hay trên đĩa phim VCD, DVD..., bạn cũng đều có thể dùng phần mềm Reezaa trích nó ra thành một file mp3 để có thể nghe trên mọi thiết bị.

1210124665_Ree1

Reezaa 2.07 là một công cụ nhỏ nhưng chuyển đổi mọi thứ file video, audio ra mp3 với một giao diện thật giản dị và dễ dùng. Tải về từ http://www.rezaa.com (một license có giá 29,95 USD), hoặc từ link Rapidshare:

http://rapidshare.com/files/99641025/Reezaa_207.zip.

Phần mềm này khá nhỏ, chỉ có 3 MB, cài vào chiếm 10 MB nhưng bạn nên để thư mục output (xuất file đi) ngoài ổ C, tránh mất dữ liệu khi cần restore lại ổ C.

:jester:Những đặc điểm của Reezaa 2.07:

- Dễ dùng: Reezaa là một phần mềm chủ yếu có cách dùng đặc biệt là kéo và thả. Bạn chỉ cần thiết lập đường dẫn cho thư mục xuất ra, thay đổi đặc tính tốt nhất cho các file MP3 theo ư ḿnh. Kế đó, bạn cứ kéo bất cứ file media nào vào vùng thả (drop zone) của Reezaa và cứ nhâm nhi một tách cà phê, chờ Reezaa xuất xưởng sản phẩm!

- Chuyển đổi file âm thanh ra MP3: Reezaa hỗ trợ hầu hết mọi định dạng âm thanh như wav, wma, asf, ra, rm, vqf, cda, ogg, mp3... và c̣n nhiều hơn thế nữa.

- Chuyển đổi file video ra MP3: Reezaa cũng hỗ trợ nhiều định dạng video thông dụng khác như avi, wmv, mov, 3gp, mp4, flv, rm, rmvb, vob, dat, mpeg...

- Chuyển đổi video YouTube ra MP3: Reezaa hỗ trợ định dạng video flv của YouTube và có thể chuyển đổi ngay các file flv ra các file mp3.

- Thay đổi và tinh chỉnh lại MP3 bitrate, rate và audio channel: Bạn có thể dùng công cụ chỉnh sửa dễ dàng và thật nhanh để thay đổi các đặc tính chủ yếu của file MP3 bao gồm: Bitrate (32 KB - 320 KB), Rate (8000 Hz - 48000 Hz), Audio channel (mono hay stereo).

- Phương cách chuyển đổi file bằng một file batch: Reezaa hỗ trợ chuyển đổi bằng file batch. Chỉ cần kéo thật nhiều file vào vùng thả file (drop zone) của Reezaa, tất cả sẽ được chuyển đổi cùng một lúc.

- Trợ giúp online: Khi bạn có câu hỏi hay đóng góp ư kiến với Reezaa, cứ việc ấn nút Feed back ở góc phải trên cùng.

l:drunk: Sử dụng:

Bạn chỉ cần qua 4 bước sau đây là chuyển đổi được file media nhanh chóng và dễ dàng:

1. Chọn file: Bạn có thể lựa bất cứ một file media nào có trong Explorer mà muốn chuyển đổi qua MP3 bằng cách kéo và thả file đó đưa vào Drop zone (vùng thả file), hoặc ấn vào nút Add a file ở góc phải bên dưới.

Khi đă chọn file media chuyển đổi bằng 1 trong 2 cách ấy, bạn sẽ thấy danh sách các file với từng định dạng của riêng từng file nằm ở giao diện chung là File list.

2. Chọn thông số để có được những file mp3 tốt nhất: Hăy chọn vào mức Bitrate thật cao, đi từ 256 đến 320 hay chọn Rate khá cao ở mức 44000 KHz, chọn Audio channel là Stereo.

Phần chọn chất lượng âm thanh chuyển đổi này nằm ở góc trái, bạn cứ dùng menu xổ xuống từng phần để thay đổi lại theo ư ḿnh.

3. Chọn nơi xuất file mp3: Mặc nhiên là C:\Output nhưng bạn có thể thay đổi lại một nơi khác (nơi ổ cứng nào khác c̣n rộng).

4. Ấn nút Start now ở góc trái bên dưới để bắt đầu thực hiện hàng loạt. Bạn có thể theo dơi chúng ở thanh diễn tiến (progress bar) nằm dưới cùng, cho biết khi nào sẽ làm xong. v


DƯƠNG MINH HOÀNG drhoang@gmail.com